Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ứng phó biến đổi khí hậu phát triển bền vững vùng ĐBSCL

Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững (PTBV) vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng biến đổi khí hậu theo hướng thuận thiên, lấy con người làm trung tâm, ưu tiên chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với các rủi ro như xâm nhập mặn và lũ lụt. Nghị quyết 120/NQ-CP cũng nhấn mạnh yêu cầu chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất và liên kết vùng để thích ứng với biến đổi khí hậu. 

Những tác động của biến đổi khí hậu đến PTBV vùng ĐBSCL 
Vùng ĐBSCL gồm 5 tỉnh/ thành và một phần tỉnh Tây Ninh, nằm phía Nam lãnh thổ Việt Nam và hạ lưu sông Mekong. ĐBSCL có tổng diện tích tự nhiên khoảng 4,05 triệu ha (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019), bằng 12% diện tích cả nước và 5% diện tích lưu vực sông Mekong (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019)

Tài nguyên thiên nhiên phong phú của ĐBSCL không chỉ hỗ trợ sinh kế cho gần 18 triệu dân trong vùng mà còn đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của cả nước. Tuy nhiên, trước những tác động về phát triển kinh tế - xã hội từ vùng thượng lưu, biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng (NBD), sụt lún và hoạt động nhân sinh tại nội vùng đang đe dọa đến sự phát triển bền vững và thịnh vượng của vùng ĐBSCL.

Theo kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2020, NBD được dự báo tăng trung bình 14cm vào năm 2030 và 24 cm vào năm 2050. Kết hợp với mức độ sụt lún trung bình quan trắc được là 10,6 cm trong giai đoạn 2005-2017, diện tích ngập lụt sẽ tăng đáng kể: 1,29% nếu NBD 10 cm, 14,86% nếu NBD 50 cm và 47,29% nếu NDB 100 cm. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ĐBSCL có độ cao trung bình cực thấp, khoảng 0,8 m so với mực nước biển, từ đó, làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt nói chung và các khu vực đô thị nói riêng.

Xâm nhập mặn (XNM) ngày càng trở nên khốc liệt cả về quy mô diện tích, độ XNM và thời gian ảnh hưởng. Năm 2020, ranh mặn 4 g/L chiếm diện tích 1.688.600 ha. Ranh mặn 4g/L được dự báo chiếm 53%, 56% và 65% toàn bộ diện tích vùng theo các kịch bản đến năm 2030, 2050 và 2100. Dự báo đến năm 2050, chiều dài XNM tăng 5,6 km trên sông Tiền, 6,2 km trên sông Hậu và 13,7 km trên sông Cổ Chiên, khoảng 2,5 triệu ha đất vùng ĐBSCL sẽ bị nhiễm mặn với độ mặn lớn hơn 1g/L so với kịch bản hiện trạng. 

Bên cạnh đó, tình trạng xói lở bờ sông, kênh, rạch trong vùng do suy giảm lượng phù sa, khai thác cát quá mức… Đến năm 2019, ĐBSCL có hơn 560 vị trí sạt sạt lở. (nguồn Bộ NN-PTNT, 2019).
Mùa vàng bội thu trên mô hình một triệu hec-ta lúa chất lượng cao, giảm phát thải  ở ĐBSCL

Các giải pháp đột phá phát triển KHCN & ĐMST thích ứng BĐKH vùng ĐBSCL

Chuyển đổi số trong nông nghiệp
CĐS trong nông nghiệp là tái cấu trúc toàn diện quản lý, sản xuất, kinh doanh từ mô hình truyền thống sang mô hình thông minh dựa trên dữ liệu, giúp quyết định chính xác, kịp thời, minh bạch với các nhóm giải pháp trọng tâm, đó là:

Về trồng trọt: Ứng dụng cảm biến và máy bay không người lái (drone) để giám sát môi trường (đất, nước, không khí) và tình trạng cây trồng (sâu bệnh, dinh dưỡng) theo thời gian thực; dùng AI/máy học để dự báo sâu bệnh, năng suất và tối ưu, bón theo vùng nhỏ (tưới, châm phân tự động) 

Về chăn nuôi: Ứng dụng IoT/AI và cảm biến để theo dõi sức khỏe đàn, khẩu phần và môi trường chuồng trại; phân tích dữ liệu lớn để tối ưu dinh dưỡng, phát hiện sớm dịch bệnh và quản lý đàn hiệu quả.

Với thủy sản/nghề cá: Giám sát môi trường nước (nhiệt độ, pH, oxy hòa tan…) bằng cảm biến IoT, tự động hóa cho ăn/sục khí; trong khai thác, dùng thiết bị dò cá (sonar), hệ thống định vị (GPS/GNSS) để quản lý đội tàu xa bờ và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Quản lý và Thương mại: Triển khai truy xuất nguồn gốc minh bạch bằng blockchain/QR; sử dụng phần mềm quản trị sản xuất – chuỗi cung ứng; bán hàng qua sàn thương mại điện tử và mạng xã hội.

Chuyển đổi số trong thủy lợi
CĐS trong thủy lợi là tập trung hiện đại hóa quản lý và vận hành hệ thống công trình thủy lợi, cũng như phòng chống thiên tai liên quan đến nước, với một số công nghệ như: Giám sát vận hành hạ tầng: ứng dụng IoT/AI và cảm biến (mưa, mực nước, lưu lượng, độ mặn…) kết nối điện toán đám mây để thu thập dữ liệu thời gian thực; xây dựng bảng điều khiển phục vụ ra  quyết định và điều khiển từ xa.

Dự báo và cảnh báo: ứng dụng dữ liệu lớn, AI, IoT, viễn thám và mô hình để dự báo lũ, hạn hán, XNM chính xác hơn; tối ưu hóa nguồn tài nguyên nước, xây dựng nhu cầu tính mô hình nhu cầu tưới theo thời gian thực để tưới chính xác, giảm thất thoát tài nguyên nước.

Công nghệ thích ứng thông minh    
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khử mặn hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, thân thiên môi trường, chi phí thấp, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có và phù hợp điều kiện KT-XH để ứng phó các kịch bản hạn mặn cực đoan.

Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào xử lý các phế thải từ nông nghiệp thành vật liệu cacbon sinh khối cho những ứng dụng trong công tác hiện đại hóa như khử mặn, điện phân nước, hấp phụ khí nhà kính, xử lý nước sinh hoạt, nước ngầm nhiễm asen.

Chuyển hóa chất thải nông nghiệp thành vật liệu tiên tiến, nâng cao chuỗi giá trị và sản phẩm khử mặn ứng dụng ĐBSCL
Các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chuyển hóa chất thải phụ phẩm chuyển hóa chất thải nông nghiệp hay phế phụ phẩm là một giải pháp then chốt để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. 

Tối ưu hóa sinh khối và giảm thiểu phát thải: cần tập trung nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng các mô hình, giải pháp phát triển sinh kế bổ sung dựa trên nền tảng chất thải từ hoạt động sinh kế chính. Các mô hình giải pháp hướng sinh thái khép kín (kinh tế tuần hoàn) đã được triển khai thành công góp phần xử lý chất thải, cải thiện môi trường và gia tăng thu nhập cho người nông dân.

Nâng cao chuỗi giá trị thông qua chuỗi chế biến phụ phẩm: việc tận dụng phụ phẩm là một yếu tố quan trọng để gia tăng gia trị tổng thể của các ngành hàng chủ lực như tận dụng phụ phẩm thủy sản; phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao; định hướng chiến lược Chuỗi giá trị.
Ký kết hợp tác giữa Công ty Sorimachi Việt Nam và các đơn vị của Việt Nam chuyển đổi số trong Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL

Nâng cao năng lực khoa học và đào tạo nguồn nhân lực
Rào cản lớn nhất của phát triển bền vững ĐBSCL là năng lực khoa học và công nghệ còn hạn chế, nền tảng nghiên cứu ĐMST và triển khai công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là dưới tác động BĐKH, làm sạt lở, sụt lún, XNM ngày càng trầm trọng hơn. Vì thế, cần nâng cao chất lượng đội ngũ khoa học bằng cách đãi ngô cạnh tranh, môi trường học thuật chuyên nghiệp và thu hút nhân tài.

Khẩn trương xây dựng các mạng lưới khoa học và chuyển giao tri thức có tính liên kết vùng và liên kết quốc gia. Nồng cốt là Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng PTBV vùng ĐBSCL với các viện, trường. Trung tâm sẽ làm đầu mối tích hợp- điều phối các chương trình liên ngành và thiết lập hợp tác doanh nghiệp – chính quyền, hình thành hệ sinh thái ĐMST, chuyển nghiên cứu thành công nghệ mô hình sản xuất và chính sách.

Các chuyên ngành chuyên sâu cần tập trung vào kỹ thuật môi trường, quản lý tài nguyên, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn,  đáp ứng yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tri thức ĐBSCL phát triển.

Triển khai hiệu quả mô hình hợp tác Nhà trường – Doanh nghiệp- Chính quyền nhằm nâng cao năng lực ứng dụng, kỹ năng quản trị và tư duy ĐMST; có  chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua các  quỹ đầu tư ĐMST, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với BĐKH; mở rộng hợp tác quốc tế với các quốc gia có kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, ứng phó BĐKH và phát triển nông nghiệp bền vững.

Có thể khẳng định rằng, BĐKH đang diễn biến hết sức khó lường, ngày càng bất lợi và tạo ra những tác động nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển bền vững của vùng ĐBSCL. Trong bối cảnh đó, KHCN&ĐMST là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để nâng cao năng lực thích ứng của vùng nhằm tối ưu hóa nguồn lực và bảo đảm an toàn sinh kế - hạ tầng - hệ sinh thái, cùng quyết tâm xây dựng một ĐBSCL có khả năng chống chịu với BĐKH, thịnh vượng và phát triển bền vững trong thời gian tới. 

                                                                                                      Phan Tại