Năm Ngọ nói chuyện Ngựa

Theo hệ thống lịch pháp cổ Đông Á, chu kỳ hoạt động của trời đất đươc tính theo thập Can và thập nhị Chi. Thập Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tan, Nhâm , Quý. Thập nhị Chi gồm: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Cứ 60 năm là lại bắt đầu 1 chu kỳ mới của đất, trời.
Ảnh: Sưu tầm nguồn internet

Năm mới 2026 thuộc năm Bính Ngọ. Ngọ là con vật đứng hàng thứ  7 trong 12 con vật, là 1 trong những con vật khá gần gũi với con người từ hàng ngàn năm trước. Nói đến con ngựa, người Việt Nam ai ai đều biết đến con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương, là một trong “tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đời Hùng Vương thứ 6, Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng ) từ 1 cậu bé đã vươn mình cao lớn vượt bậc, xin Vua ban cho 1 con ngựa và 1 thanh gươm để chống giặc Ân từ phương Bắc tràn xuống xâm lược nước ta. Đây dù là truyền thuyết nhưng thể hiện lòng tự hào của dân tộc Việt Nam, ý chí kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm.

Ngựa là con vật được nhiều nước trên thế giới nhắc đến, gắn liền với nhiều sụ kiện lịch sử cũng như y học. Trong phạm vi bài viết nay xin được trao đổi xoay quanh 2 nội dung nêu trên và quá trình sinh trưởng của động vật mạnh mẽ này, tác giả xin không nhắc đến phần ẩm thực và các lĩnh vực khác liên quan đến con ngựa.

Trước hết, nói về quá trình xuất hiện và sinh trưởng của động vật này, không phải ai cũng biết được rằng loại ngựa xuất hiện trên trái đất cách nay khoảng  55 triệu năm (Kỷ Eocene), ở Bắc Mỹ. Lúc đầu, con ngựa chỉ cao khoảng 20-30 cm, nghĩa là chỉ bằng kích thước một con chó nhỏ, có 4 ngón ở chân trước và 3 ngón ở chân sau. Dần dần, sau nhiều lần tiến hóa, đến cách nay khoảng 5 triệu năm, chân ngựa chỉ có một ngón (móng guốc) đầu tiên, tiền thân trực tiếp của ngựa hiện đại. Sau đó, từ Bắc Mỹ, ngựa di cư sang châu Á, châu Âu, được con người thuần hóa từ khoảng 4.200 năm đến 5.000 năm trước. 

Hiện nay, dựa trên mục đích sử dụng và đặc điểm hình thể, các loại ngựa hiện đại được chia thành các nhóm chính như: (1) Ngựa kéo ( kéo đồ nặng hoặc làm nông nghiệp), như Ngựa Shire (cao và nặng nhất thế giới), Ngựa Clydesdale, Ngựa Bỉ. (2) Ngựa cưỡi và Đua (Light Horses), có thân hình thon gọn, tốc độ nhanh và linh hoạt, như Ngựa Thuần chủng (Thoroughbred) (chuyên đua tốc độ), Ngựa Ả Rập (Arabian) (sức bền cực cao), Ngựa Akhal-Teke (ngựa "hãn huyết" quý hiếm với bộ lông ánh kim).(3) Ngựa Pony: Những giống ngựa có kích thước nhỏ (thường cao dưới 1,47m), như Ngựa Shetland, ngựa Falabella (nhỏ nhất thế giới).(4) Ngựa hoang dã như các loại Ngựa Mustang (ở Mỹ), Ngựa Przewalski (giống ngựa hoang thực sự duy nhất còn sót lại). 
 
Trong văn hóa Việt Nam, tên các loại ngựa còn được phân loại chi tiết qua màu sắc, như Ngựa Bạch: Trắng tuyền, Ngựa Ô (Hắc mã): Đen tuyền, Ngựa Kim: Trắng xen lẫn ít đen, Ngựa Hồng: Đen pha đỏ đậm. Ngoài ra, còn có ngựa đen pha đỏ tươi là ngựa vang; đen pha đỏ đậm là ngựa hồng; trắng đen pha chút đỏ là ngựa đạm; tím đỏ pha đen là ngựa tía; trắng sọc đen là ngựa vằn...
 
Theo nghiên cứu khoa học cho biết, một con ngựa hiện đại có tuổi thọ từ  25 đến 30 năm. Ngựa cái trưởng thành mang thai khoảng 11 tháng (330 – 345 ngày). Ngựa cái thường chỉ đẻ mỗi lứa một con. Lúc mới sinh: Ngựa con (foal) có khả năng đứng dậy và chạy nhảy chỉ sau 1 - 2 giờ chào đời để tránh kẻ thù trong tự nhiên. Ngựa con bú sữa mẹ hoàn toàn trong vài tháng đầu. Chúng bắt đầu tập ăn cỏ từ tuần thứ 2 nhưng vẫn phụ thuộc vào sữa mẹ đến khoảng 4 - 7 tháng tuổi thì cai sữa. Về sinh sản: Ngựa có thể bắt đầu sinh sản từ 18 tháng tuổi, nhưng để đảm bảo sức khỏe, người chăn nuôi thường đợi đến khi chúng ít nhất 3 tuổi. Ngựa được coi là trưởng thành hoàn toàn về khung xương vào khoảng 5 tuổi. Ngựa là loài động vật xã hội cao, sống theo đàn (harem). Một đàn thường gồm một con ngựa đống (stallion) đầu đàn, các con ngựa cái và con của chúng. Ngựa là động vật ăn cỏ (herbivore) do chúng có hệ tiêu hóa một túi nhưng khả năng lên men tại manh tràng rất mạnh, nên có thể tiêu hóa chất xơ từ cỏ suốt cả ngày.

Theo lịch sử ghi lại, nhiều loại ngựa được sử dụng trong chiến tranh, từng được các vì Vua, tướng các nước sử dụng trong chiến tranh, cả chỉ huy quân sĩ   ra trận mạc. Phải khẳng định rằng  ngựa là lực lượng quan trọng trong chiến tranh. Ngựa từng là vũ khí chiến lược trong các đội kỵ binh, mang tính gần như quyết định thắng bại của nhiều đế chế xa xưa. Từ các chiến binh Mông Cổ, La Mã, Hy Lạp, đến các samurai Nhật Bản, ngựa đã làm thay đổi nghệ thuật chiến tranh và bản đồ chính trị thế giới. Tuy vậy, vó ngựa quân Mông Cổ từng có mặt từ Á sang Âu vả chỉ bị dừng bước khi sang xâm lược Việt Nam. Thời kỳ phong kiến, có khá nhiều vị vua Việt Nam cũng sử dụng ngựa, xông pha trận mạc. Tiêu biểu có Vua Đinh Tiên Hoàng (cưỡi ngựa từ nhỏ), vua Lê Đại Hành, Lê Lợi. Đặc biệt, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) cùng các tướng lĩnh Tây Sơn với những chiến mã thần tốc, tiến ra Bắc Hà, đánh thắng quân Thanh xâm lược vào mùa Xuân Kỷ Dậu (1789). 

Trong thời hiện đại, sau thời gian huấn luyện và tổ chức, nước ta chính thức có Đoàn Cảnh sát cơ động Kỵ binh, thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (K02) - Bộ Công an. Đơn vị ra mắt chính thức vào tháng 6 năm 2020. Đây là đơn vị kỵ binh chính quy đầu tiên của Việt Nam trong thời đại mới. Phục vụ nhiều cuộc diễu binh, diễu hành nhân các sự kiện trọng đại của đất nước.
Khối Cảnh sát cơ động kỵ binh thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (Bộ Công an) tham gia buổi hợp luyện cùng các khối diễu binh, diễu hành của lực lượng công an chuẩn bị cho sự kiện kỷ niệm 30/4 (Nguồn: https://vtv.vn/)

Trong quá trình phát triển và nghiên cứu y học, các nhà khoa học đã phát hiện và sử dụng huyết thanh từ ngựa để cứu người. Huyết thanh ngựa (serum ngựa) được ứng dụng rộng rãi trong y học hiện đại để điều trị các bệnh nguy hiểm thông qua việc chiết xuất kháng thể đặc hiệu. Các loại huyết thanh từ ngựa như kháng uốn ván, kháng dại, và kháng nọc rắn độc là những "thần dược" giúp cứu sống hàng ngàn người mỗi năm, đặc biệt hiệu quả trong việc trung hòa độc tố nhanh chóng. Việc sử dụng huyết thanh ngựa để cứu người (liệu pháp huyết thanh - serum therapy) được phát hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi bác sĩ người Đức Emil von Behring và cộng sự người Nhật Shibasaburo Kitasato. Năm 1890, Emil von Behring và Shibasaburo Kitasato phát hiện ra rằng huyết thanh (phần chất lỏng của máu) từ những động vật đã tiếp xúc với vi khuẩn bạch hầu hoặc uốn ván có chứa một chất có thể trung hòa độc tố của vi khuẩn đó. Đến năm 1891, lần đầu tiên huyết thanh kháng độc tố được sử dụng để cứu sống một bé gái mắc bệnh bạch hầu tại Đức. Với khám phá vĩ đại này, Emil von Behring đã được trao giải Nobel Y học.

Còn rất nhiều điều thú vị về loài ngựa, xin được trình bày tiếp trong thời gian tới cùng quý độc giả.

Trịnh Công Lý